Mẹ nuôi con bằng bó hành bó hẹ, Bằng con cua đồng nấu lá mồng tơi. Con lớn lên bằng tình yêu của mẹ, Nên hiên ngang đối diện với đời. CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN,KÍNH CHÚC CÁC BẠN LUÔN AN LÀNH…!!

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

THĂNG LONG CÒN ĐÓ



 
THĂNG LONG CÒN ĐÓ
Mấy  ngàn năm…
Mà còn nghe sụt sôi hồn thiêng sông núi.
Chiếu dời đô háo hức triệu muôn lòng.
Ngựa hí, loa vang, người ngóng đợi.
Rồng bay lên, bừng khí thế Thăng Long!

Và từ đó…
Máu, mồ hôi cùng đổ,
Cho biên cương như vách sắt thành đồng.
Những bàn tay miệt mài trong nắng lửa,
Cho lá xanh màu, lúa nặng thêm bông.
Cũng từ đó…
Đất linh sinh hào kiệt,
Gươm giáo ba quân ràng rạng áp tinh cầu!
Lòng yêu nước dậy dòng sông Như Nguyệt,
Để một ngày máu nhuộm đỏ Ung Châu!

Triệu cánh tay, triệu bầu nhiệt huyết,
Đại Việt riêng trời, một cõi địa dư.
Lời khẳng định, của nghìn thu oanh liệt:
“Nam quốc sơn hà nam đế cư”.

Và hôm nay…
Càng bước tới, non sông càng lớn mãi,
Càng đi lên, đồi núi vẫn chưa cao.
Thăng Long trước  đã dậy trời biên ải
Nay lẽ nào lại thẹn với năm châu?

Chẳng chịu mất ngọn rau tấc đất
Nên khí thiêng mờ mịt cõi trời đông.
Triêu cánh tay thét một lời bất khuất
Nên “Đằng Giang tự cổ huyết du hồng!”

KHA TIỆM LY

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ




HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ

Tiền viết mướn chỉ đủ mua gạo lẻ lưng nồi,
Nhà ở thuê kiếm đâu ra mai vàng trước ngõ!

Nghĩ thân ta,
Te  tua mái lá, mặc tình gió bấc mưa nam,
Quạnh quẽ bàn thờ tủi thân ông sơ bà cố!
Mua xôn giày dõm, lê mấy bước thì hả miệng hả mồm
Ráng sức xe cùi, đạp vài vòng cứ trật sênh trật chó!
Không hoa không quả, không nhang đèn, Trời Phật, Chư Thiên dù chẳng sân si,
Chẳng chuối chẳng chè, chẳng hương khói, Ông Địa Thần Tài đếch thèm gia hộ!
Tiền nhà tiền điện, chạy sút quần mệt bở hơi tai,
Nợ mẹ nợ con, há tét miệng chửi banh ngoài ngõ!

Thế nhưng,
Cơm lưng bụng, quân tử cần chi hải vị sơn hào,
Quần sờn mông, hảo hán chẳng màng chi tơ tằm vải bố!
Dẫu nghèo tiền nghèo bạc, mà ba miền tao nhân mặc khách dẫy đầy,
Lại giàu bạn giàu bè, cùng bốn biển, khí phách đệ huynh vô số!
Từ người cửa rộng nhà cao,
Đến kẻ đầu đường xó chợ!
Luôn xa lánh phường chém chú đâm cha,
Lại xót xa bọn trộm trâu trộm chó!
Lòng như nước trong leo lẻo, mặc bấy người đổi trắng thay đen,
Mặt tợ trăng sáng ngần ngần, dễ cho ai trét vôi trét lọ!

Ô hô!
Dù răn con khuyên cháu, chớ theo văn hóa bọn rợ Tàu.
Mà ngứa bút khua nghiên, lại xổ văn … gừng vài câu đối.

Đối rằng:
Trong nhà năm xe sách vở mối mọt lăm nhăm,
Ngàn dặm bốn hướng sông hồ anh em lố nhố.

Cho nên,
Đầy bè đầy bạn, lo chi chén tạc chén thù,
Không vợ không con, sợ gì tiếng chày tiếng cối !
Dăm lít rượu rừng rượu đế, sớm chiều mặc tình tỉnh tỉnh say say,
Ba bữa cơm nguội cơm ôi, sáng tối chẳng sợ no no đói đói.
Gạo rau phun thuốc, dại gì mà dộng cành hông,
Rượu đế pha cồn ai nói chẳng say tới bến?

Mắt nhìn hí hí, xem cuộc cờ, ung dung nâng chén uống râm ri, 
Lời thốt tràn tràn, luận anh kiệt, hào sảng vỗ bụng cười hô. hố.                                               
Đất cằn cây lớn, nơi hàn môn xuất hào kiệt  tàng tàng,
Chùa rách Phật vàng, trong áo vá tỏa phong nghi lồ lộ.

Xét mình: 
Dù chữ Dũng nào dám sánh Tăng Sâm,
Còn chữ Hiếu vẫn thua xa Tử Lộ.
Đức mỏng, đâu dám đo cùng bậc thánh, bậc hiền.
Tài hèn, chẳng đủ bàn chuyện kim, chuyện cổ!

Chẳng qua:
“Phú quý do thiên”
Quan trường tại số.
Cam La má tròn phinh phính đã đạt công khanh
Bá Lý tóc trắng phơ phơ mới ngồi trướng hổ!
Trên cao chót vót mà dòng suối rộng được mấy tầm?
Dưới thấp lè tè nhưng biển khơi sâu hơn nghìn bộ!
Nơi quyền môn có khi thừa kẻ vô lại tham tàn.
Chốn thảo lư lại chẳng thiếu bậc tài hoa đức độ!
Chớ gặp khi thất thời mà dấm dứ dấm da,
Đừng cậy lúc thượng phong mà xí xa xí xố!

Chỉ tiếc cho:
Núi cao nghìn trượng mà chẳng còn đá cứng gươm mài,
Trời rộng thênh thênh lại chẳng dung đại bằng cánh vỗ!
Chua xót lắm! Bụng kinh luân  mà giống túi đựng cháo đựng cơm,
Cay cú thay! Vai thao lược lại thành giá máng quần máng áo! *
Thả cần sông Vị. mà vắng người Văn, Vũ; chỉ hoài công chờ vận đợi thời,
Đốt lửa non Lương, lại bặt tăm Tiều, Tống; đành phí sức đốn cây cưa gỗ!
Cái lợi cái danh, từ xưa kèo cựa một mớ ba đồng,
Cái đức, cái tài, ngày nay xa cạ một đồng ba mớ!
Nghênh ngang ngọn bút, mà hùng tâm chưa vọt thấu chín tầng,
Sang sảng lời thơ mà khẩu khí còn nằm im mấy độ !

Tâm đắc quá:
“Bần tiện bất năng di
Uy vũ bất năng khuất”

Thì sá chi câu: 
“Tiểu nhơn đắc thế tợ điểu phi thiên,
Quân tử thất thời như ngư vô thủy”

Hôm nay,
Ngà ngà men rượu, hứng chí viết dăm chữ lăng nhăng,
Thân thiết bạn hiền, vui miệng nói vài câu nhí nhố.
Chúc mọi người an lạc bốn hướng đông tây,
Hưởng mùa xuân hạnh phúc nhất nhì kim cổ!

Kha Tiệm Ly

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU

VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU
(Tặng Lang Vườn)

Đất Phương Nam rượu đã lờn mùi,
Chợt nhớ đệ huynh dọc đường số một.
Hảo hán bốn phương thiếu gì chí cốt,
Lẽ nào một mình ôm rượu uống khơi khơi?

Một ngày gặp nhau , mấy ngày ly biệt,
Lời tri âm sao chẳng nổ tràn tràn ?
Trăm năm dễ chi gặp người hào kiệt
Thì rượu tương phùng sao chẳng rót chang chang ?

Rồi mai đây, đâu hẹn thân bèo nước,
Bỏ hết đi ! – Chừa sĩ khí mà thôi!
Ta gặp nhau cũng là duyên kiếp trước.
Biết ra sao, sau sáu nẻo luân hồi ?

Rượu khí phách tràn tràn lời khí phách,
Rượu hùng anh cạn chén với anh hùng.
Rượu hảo hán chỉ chọn người hảo hán
Rượu ngang tàng bén kiếm Lệnh Hồ Xung!

Mặc cho đời tranh danh tranh lợi,
Tranh nhục, tranh vinh, rồi cũng một mấm mồ
Đập bình vỡ, nói một lới sảng khoái,
Vỗ bàn ca khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.

                                    Kha Tiệm Ly
                                      12/ 2014

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

UỐNG RƯỢU




UỐNG RƯỢU

Rượu vào một cốc lạ lùng thay!
Mắt bỗng tinh tường chuyện dở hay:
Vinh nhục thập thò người lớn bé,
Lợi danh đờ đẫn giấc mê say.
Mềm môi, ly cạn màu tâm sự,
Lỡ bước, chân mòn cuộc chuyển xoay!
Mắt đục trần ai, ai biết được,
Biết ai người tỉnh, biết ai say?

Kha Tiệm Ly

Bài họa 1

RƯƠU VÀO...
Rượu uống một ly, thấy đổi thay
Nhận ra trước mắt mọi điều hay
Hai chung, tốt xấu không phân biệt
Ba chén, nhục vinh cũng vẫn say !
Nửa hũ, đất trời như đảo lộn
Cạn bình, hư thật cứ vần xoay
Còn đâu tỉnh táo và minh mẫn
Để biết rằng mình đã quá say !
                Phương Hà
Bài họa 2

THIẾU RƯỢU
Rượu bình đã cạn, lấy gì thay ?
Chưa kịp vơi đầy mẩu chuyện hay
Bạn thuở hàn vi vừa tái ngộ
Người thời son trẻ đã mơ say
Hơi cay chẳng đủ làm môi ấm
Chất đắng dư thừa để mắt xoay
Nhạt nhẽo chuyện trò không hứng thú
Ước gì thêm nữa mặc tình say !

                                   Sông Thu


Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

UỐNG RƯỢU VỚI HẢO HÁN !

 
UỐNG RƯỢU VỚI HẢO HÁN
Chiều lang thang nhìn kẻ lạ người quen,
Bọn hảo hán dưới gầm cầu mời uống rượu.
Chơi thì chơi, có bịnh chi mà cữ,
Túi giang hồ đựng bốn biển anh em.
Kẻ kiếp trứơc chắc tạo nhiều phước đức,
Nay ngồi đường cũng có kẻ cho ăn!
Kẻ kiếp trước chán chê xe đời mới,
Nên giờ nầy thủ cẳng chiếc xe lăn!
Ta kiếp trước chắc gieo nhân ung thối,
Nên đời nầy mới lảnh quả nhà văn!
Rượu thâm tình chọn người hảo hán,
Bọn phàm phu, vô lại đứng qua bên.
Rượu nghĩa khí ai dại gì kê táng,
Rượu tri âm ai dại độn long đền!
Hãy uống đi, hỡi chư huynh đệ!
Dù rượu giang hồ dù có chút đắng cay!
Nếu lỡ say, ngày mai ta lại tỉnh,
Hơn đám người suốt kiếp vẫn còn say!
Chẳng cướp của, giết người, chẳng lo quả báo,
Chẳng tạo oan khiên, chẳng sợ đòn thù.
Bọn chúng ta xem thường danh lợi hão,
Bất Vi còn,
chắc chép vào Lã Thị Xuân Thu!
Mặc thằng đời đứa khôn đứa dại,
Chiếu rách lót lưng ta vẫn ngủ khò.
Ăn trộm nào lựa thằng trên răng dưới dái,
Ai xỉn rồi, cứ ngửa c… ngáy o o!
Kha Tiệm Ly

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

NHỚ QUÁ … HÒ CẤY LÚA


NHỚ QUÁ … HÒ CẤY LÚA
        (Loạt bài biên khảo)


1. Cấy lúa
Ngày nay, theo các nhà nghiên cứu về nông nghiệp thì sạ lúa có lợi hơn cấy lúa. Thứ nhứt là thu hoạch lúa nhiều hơn; thứ hai là ít cần đến nhân công: Một vài mẫu lúa chỉ cần một người cật lực sạ quá buổi là xong; đó là chưa nói ngày nay có máy sạ thì năng suất lao động tăng cao gấp bội! Trong lúc cấy lúa phải trải qua nhiều công đoạn mà giai đoạn nào cũng cần nhiều người và lắm gian nan. Từ nhổ mạ, bó lại từng bó, rồi dùng cộ* kéo đi hoặc đòn xóc** mà gánh (lên bờ hoặc đem về nhà). Đợi ba bốn ngày sau cho mạ ra rễ non; trong lúc nầy người nông dân phải làm lại ruộng cho thật bằng phẳng, sạch sẽ, sẵn sàng cho công đoạn cấy.
Ngày nay đồng lúa bị nhường chỗ cho cây ăn trái, hay công nghệ nuôi trồng thủy sản nên hiếm thấy được những cánh đồng bạt ngàn cò bay thẳng cánh như xưa; từ đó cũng khó thấy được cảnh cấy lúa với hàng trăm công cấy lô nhô trên ruộng. Thiết tưởng cũng nên sơ nói qua cho người sau được biết.
Cấy lúa có thể nói là công đoạn gay go nhứt trong qui trình trồng lúa. Người chủ ruộng phải chuẩn bị trước nhiều ngày, có khi cả tháng để “kêu” công cấy – tức những người “thợ” cấy lúa. Tùy theo ruộng nhiều hay ít mà “kêu” số công cấy thích hợp, thường thì cũng không dưới hai mươi; lắm khi “kẹt công”, người chủ ruộng phải “kêu” công cấy thêm ở những làng lân cận, hay thợ cấy từ xa đến.
Sau khi ăn sáng – thường là xôi và muối mè hay tép rang mặn; không thấy chủ ruộng “đãi” cơm bao giờ, vì ngoài “ăn xôi cho chắc bụng”, chủ ruộng cũng không có thời gian lo thức ăn cho năm sáu chục người. Xôi thường được đựng bằng thúng, bên trong được lót mấy lớp lá chuối; chén đũa cá nhân cũng không, người ăn cứ lấy nhiều đôi đũa công cộng rồi mạnh ai nấy vít vào tay, chấm vào mấy tô muối mè hoặc vừa cầm xôi, vừa cầm tép để trong nhiều tô, dĩa lớn ở chung quanh. Công cấy đủ mọi lứa tuổi trong đó có những thanh niên nam nữ trong lứa tuổi “bẻ gãy sừng trâu” nên sức ăn như hổ. Tại những thửa ruộng gần đường đi, chủ ruộng luôn mời những người đi đường ngang qua “ăn cho vui” và cho lũ học trò chúng tôi, vì thế lượng xôi phải thật nhiều vì chủ ruộng không muốn mang tiếng là keo kiệt! Thành ngữ “nấu như cho công cấy” là nhằm phê bình các chị nào nấu cơm quá nhiều so với lượng người ăn.
Khi no bụng, các công cấy “xuống công”. Nếu đủ người, họ dàn hàng ngang hết thửa ruộng rồi “bắt luống”. Mỗi “luống” do một người phụ trách, có thể từ 4 đến 6 bụi bề ngang, họ cứ khom lưng xuống thụt lùi mà cấy từ đầu ruộng bên nầy đến đầu bờ ruộng bên kia. Tới bờ ruộng bên kia là dứt luống cấy của họ. Trường hợp bề ngang thửa ruộng quá lớn mà công cấy không đủ dàn ngang một lần, thì họ phải “bắt luống” lại từ đầu bên kia trở lại đầu khởi điểm lần trước. Nếu cũng chưa xong, thì tiếp tục quay lại “bắt luống” cho đến khi nào cấy giáp thửa ruộng thì thôi.
Với công cấy người địa phương, thì những người cấy giỏi họ tự chọn đứng gần nhau để không ai bị “nhốt” - Nhốt là bị hai người cấy giỏi “dẫn luống” qua mặt, bỏ lại người cấy yếu phía sau bị kẹp ở giữa hai “luống” hai bên. Nếu người cấy giỏi “bắt luống” gần người cấy yếu thì họ nương nhau, tức là người giỏi cấy chậm lại để chờ, hoặc “gánh” giùm một bụi cho người cấy chậm hơn - nếu mỗi người cấy 5 bụi thì người cấy giỏi sẽ cấy 6 bụi, còn người kia cấy bốn bụi. Cùng làng mà!
Còn với công cấy phương xa đến, thì những công cấy xuất sắc trong làng âm thầm cấu kết xen kẽ với công cấy xa, cho công cấy ở xa xen giữa; với mục đích để người ở xa bị “nhốt” chơi! Người nông thôn không có tính ác, nhưng họ muốn cho “đối phương” phục dân làng mình có những tay cấy thượng thừa!
Nếu công cấy phương xa ấy cấy kém – đã bị “nhốt”, thì lúc nghỉ ăn xôi trên bờ ruộng, họ đến nói với hai người đã “nhốt” mình: “Hai anh/ chị cấy hay quá, tui “chạy” theo muốn chết mà cũng không kịp”, chỉ cần câu nói đó là người địa phương khoái chí, họ liền nói: “Anh/ chị đừng lo, để lát nữa tụi tui phụ chị một hàng”. Thế là vui vẻ cả… hai làng! Dân quê là như vậy đó!
Cấy lúa ngoài việc khom lưng suốt buổi dưới ánh mặt trời, mỏi lưng còn có thể đứng thẳng lên một lát nhưng mỏi chân thì chỉ chịu trận bởi bên dưới là nước; ngoài ra họ còn thường xuyên bị đỉa bám cho nên phải nói cấy là công đoạn rất gian nan. Để tạo niềm vui cho quên đi những nhọc nhằn của công việc, người xưa đã bày ra những câu hò. Câu hò gắn liền với động tác lao động: Hò giã gạo, hò chèo ghe, hò cấy lúa.
2. Hò cấy lúa
Thực ra nếu gọi là “những câu hò trong lúc cấy lúa” thì có lẽ đúng hơn. Bởi vì những câu hò nầy không nhất thiết phải có nội dung “cấy lúa”, mà nhằm đề tài nào cũng được, miễn đừng đi lệch quá xa động tác lao động khác như chèo thuyền chẳng hạn. Nó có thể mượn từ những câu hát xưa, ca dao, những câu thơ, với đủ thể loại như lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát…., hoặc do tự người trong “giàn hò” - những người hò giỏi trong một nhóm công cấy, tự đặt ra, cho nên hò cấy lúa rất đa dạng. Nếu hò một mình thì gọi là “hò lẻ”, nếu hai người hò đối đáp nhau thì gọi là “hò đối đáp”, mà người mở đầu gọi là xướng hay “buông”; người hò đối lại gọi là đáp hay “bắt”.
Một câu hò “có ca có kệ” như vầy: “Hò hơ..ơ…ờ … Thò tay mà ngắt cọng ngò.. hò ơ…ờ ơ..ờ…/ Anh thương em đứt ruột, Hò hơ… Anh thương em đứt ruột (mà) giả đò làm lơ. Hò ơ… ờ… (Sau nầy xin bỏ những chữ “hò ơ ơ…” và câu lập lại).
Hò đối đáp nghe thú vị hơn, nhất là với đề tài tình cảm trai gái; vì nó đòi hỏi trí thông minh và “tay nghề” của cả hai bên xướng đáp; nó tạo ra nhiều trận cười và được những cái tặc lưỡi khâm phục. Hò đối đáp thường là tỏ tình hay chọc ghẹo lẫn nhau, đại khái như: “Anh thấy em cái gò má hồng hồng/ Phải chi em đừng mắc cỡ thì anh bồng anh hun”, hoặc như các câu: “Ngó lên mây trắng trời xanh, ưng ai cũng vậy, em ưng anh cho rồi!” “Con ếch ngồi dựa gốc bưng, nó kêu cái “quệt”,” bảo em ưng anh cho rồi!”.
Tùy theo “đối tượng” mà người nữ hò đáp lại: “Chuyên vợ chồng anh chớ khá bồn chồn, anh thương em nên dè dặt kẻo thiên hạ đồn không hay”, hoặc là: “Gió đưa ba lá sa kê, ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi!”
Sau đây là những câu hò đối đáp khác: “Bạc với vàng con đen con đỏ, đôi lứa mình còn nhỏ thương nhiều, vừa nghe tiếng em là anh muốn như chàng Kim Trọng thương nàng Thúy Kiều thuở xưa”. Đáp: “Ớ! Người không quen ơi! Nghe anh nói em cũng muốn thương nhiều nhưng hoa đà có chủ nên khó chiều dạ anh”. Nam: “Cửu hạn phùng cam võ, tha phương ngộ cố tri, tình cờ mà gặp mấy khi, hỏi thăm người thục nữ giai kỳ định chưa?”; nữ đáp: “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Thoại bất đồng tâm bán cú đa. Miễn sao anh ăn nói thật thà, dẫu cho Hồ Việt cũng một nhà khó chi”. Lắm khi bên nữ cũng gieo tình trước: “Em đến đây kiếm anh như con cò trắng bay cao, nầy bậu ơi! Thân em đâu khác thể vì sao trên trời”; đáp: “Thân anh như tấm da trời, mình ơi! bốn mùa sương lạnh anh không rời vì sao”.
Hò đối đáp nhiều khi chỉ là những câu đố bông lơn. Nữ: “Em thấy anh ăn học cũng thông, lợi đây em hỏi cái khăn bàn lông mấy đường?”, Chỉ có… trời mới biết! nhưng chàng đã lanh trí: “Em ơi! cái khăn bàn lông anh đội cũng thường, bây giờ nó cũ nó có mấy đường anh cũng quên!”, và: “Chữ gì chôn dưới đất. Chữ gì cất trên trang. Chữ gì mang không nổi. Chữ gì gió thổi không bay. Trai như anh mà đối đặng, thì em ngửa bàn tay cho anh ngồi”. Đáp: “Chữ Thọ Đường chôn dưới đất. Chữ hiếu cất lên trang. Chữ tình mang không nổi. Chữ tạc đá bia vàng thì gió thổi không bay! Ôi, người thục nữ ôi! Anh đà đối đặng nhưng em có ngửa tay anh cũng không dám ngồi”.
Có anh “bạo” đến sỗ sàng: “Ơi, ai đó ơi! Em cấy lúa lưng cong cong như con tôm sú, mà anh liếc nhìn thấy cặp vú anh muốn hun”. Hết chỗ nói! Còn chị cũng không kém: “Anh muốn hun vậy cũng không gi khó, anh hãy về nhà ôm vú… chó mà hun!” Chết chưa! Nhưng anh trả đũa cái rẹt: “Nắm tay em anh hỏi có ngằn, vậy chớ từ nhỏ tới lớn em có “đãi đằng” ai chưa?”. Chị quật lại: “Thân em như thể trái dừa, đãi người trên trước, cặn thừa cho anh ăn”. Độc đáo thiệt! “Đau” thiệt! Những câu hò đối đáp ngoắc ngoéo như vậy không những không làm họ giận nhau mà còn nể phục nhau hơn và công cấy trên ruộng cũng vui hơn. Không ít “cặp hò” vì mến tài nhau mà sau nầy thành chồng vợ.
Nếu có những công cấy ở làng bên qua phụ công, thì họ cũng không quên tuyển lựa những tay hò “chiến đấu” đem sang để cho làng địa phương nể mặt. Những lúc đó thì hai phe hò đối đáp nhau càng quyết liệt. Tuy vậy, không phải câu nào bên đối phương “buông” ra là bên nây đều “bắt” được. Gặp trường hợp như thế thì một trong hai bên chỉ… cười trừ! Bên “thua” không lấy đó làm xấu hổ, và bên “thắng” cũng không lấy đó mà ngạo mạn. Văn chương mênh mông mà!
Những thửa ruộng dọc theo đường làng, các câu hò của công cấy thường thu hút bà con đi đường, và đám học trò chúng tôi: Một đàng là nghỉ chân nghe hò; một đàng thì đến để… xin xôi! Trong đám bà con thính giả nầy có những tay hò lão luyện. Khi họ thấy bên nào “bắt” không được, máu văn nghệ, nổi lên, họ… ngứa miệng “bắt” giùm ngon ơ, ngọt xớt! Sau những lời thán phục, rồi đâu đó nghe câu nói: “Gặp ổng/ bả rồi!”
Mấy chị gái quê dù chất phác, đảm đang nhưng cũng có lúc đáo để lắm: Một anh đang gánh mạ trên đường, chợt nghe dưới ruộng tiếng hò của một chị vọng lên: “Ngó lên đường cái băng băng, thấy thằng cha gánh mạ mặt nhăn như cái l…” Tức thì anh gánh mạ bèn để gánh mạ xuống, cao giọng: “Tay cầm bó mạ xanh xanh, đầu em ngút ngoắt như con c… anh đi đường!” Cả ruộng ôm bụng cười quên cả cấy lúa!
Những câu hò làm người ta vui, bao nhọc nhằn cũng từ đó mà tiêu tan. Một câu hò với hai câu lục bát cũng phải mất ba mươi giây khiến người “thợ hò” không thể theo kịp “luống” nên luôn được bạn cấy hai bên cấy gồng giùm mỗi người một cây như là một luật bất thành văn vậy.
Những ngày nghỉ học, nhằm vào mùa cấy, đám học trò chúng tôi thường men theo đường cái để xin xôi, và nghe anh chị dưới ruộng hò. Tuổi trẻ “sáng dạ”, mau thuộc, nhưng qua bao thăng trầm của thời gian, dần dà quên mất đi nhiều. Nhưng những hình ảnh cấy lúa thì chẳng thể phai mờ. Từ năm sáu mươi, trên ruộng tiếng hò đã không còn nữa!
                                                                                                                              Kha Tiệm Ly


Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

TẾT TRUNG THU CỦA NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI


 




TẾT TRUNG THU CỦA NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

Tôi còn nhớ lúc còn ở tiểu học, cứ vào đầu tháng tám âm lịch thì trường tôi, quý thầy đều cho học sinh làm thủ công chiếc lồng đèn trung thu với hình thức tự do: Ông sao, cá chép… hoặc xếp bằng giấy cũng được. Thế là chúng tôi hăm hở vào cuộc. Từng nhóm hẹn nhau ra vườn lấy nhánh trúc làm sườn. Trong bọn bốn đứa, tôi vụng về nhất nên làm đèn ông sao; ba người còn lại, ai cũng khéo tay; người thì làm cá chép, làm con bướm; đặc biệt nhất là anh Long nếu gọi theo từ bây giờ, anh xứng đáng là một “nghệ nhân”: Anh làm con rồng tỉ mỉ, công phu vô cùng! Khi dán giấy lên, rồi dùng màu nước vẽ thêm bờm, thêm vảy nên càng sống động. Nhìn hai cái râu rồng bằng hai cọng kẽm mà trên đầu được gắn bằng hai trái mù u non, nó đong đưa hết sức vui mắt. So ông sao của tôi và con rồng của anh là một trời một vực!
Có lẽ vì bận bịu trong cuộc chiến tranh đánh Pháp, nên trừ những người “ở chợ” như tôi, còn hầu hết các bạn ở “vùng sâu vùng xa” đều đến trường rất trễ: Có người chín mười tuổi mới được vào lớp năm (lớp 1 bây giờ), cho nên khi ngồi lớp nhứt (lớp năm bây giờ) thì bạn trai đã có người “ nổi giò”, “bể tiếng”, còn các bạn gái thì “trỗ mã” đi vào tuổi dậy thì! Sau khi “tốt nghiệp” tiểu học, bậc cao nhất của huyện thời đó, đa phần các bạn đều nghỉ học luôn, về giúp việc nhà, để rồi chỉ vài năm sau, họ có vợ có chồng là chuyện rất thường. Trai 18 có vợ, gái 16 có chồng coi như là thông lệ!
- Đẹp thật!
Đang mãi mê làm việc, chúng tôi không để ý đến người thứ 5 là nhỏ Nhãn đã có mặt tại đó tự bao giờ. Cả bọn mất tự nhiên, và không ai bảo ai, chúng tôi đều nhanh chóng đổi lại thế ngồi. (vì sợ… “gió… lái!”).
Nhỏ Nhãn hai tay chấp sau mông:
- Mấy anh làm đẹp lắm!
Tôi hỏi để che đi bối rối:
- Nhỏ làm thủ công chưa?
Nhãn lắc đầu:
- Tui hỏng biết làm! Tui sợ đứt tay!
Chúng tôi nhìn nhau, có lẽ đều cùng cảm thông với người bạn gái. Vốn hào hiệp, tôi đưa cái đèn ông sao của tôi cho Nhãn:
- Tui cho nhỏ cái nầy. Tui làm cái khác.
Tưởng “anh hùng” nhận được sự vui mừng của “mỹ nhân”; nào ngờ Nhãn do dự một thoáng rồi nói:
- Ư… ư… đèn ông sao của anh dở lắm! Tui muốn đèn con rồng như của anh Long vậy đó!
Không biết sao tôi lại xụ mặt vì lời nói rất thật đó. Mọi người cũng bất ngờ vì câu nói của Nhãn; anh Long ngước lên nhìn Nhãn:
- Đèn con rồng làm ba bốn ngày mới xong, ngày mai thầy chấm điểm rồi, làm sao kịp? Đèn ông sao làm lẹ hơn.
Tôi dồn bực tức vào Long, gọi anh là “mầy” chứ không là “anh” như mọi khi; nói mát:
- Thì mầy tặng con rồng cho nhỏ đi!
Anh Long còn do dự, thì Nhãn lắc đầu lia lịa:
- Tui không nhận đâu! Vậy mấy anh làm giùm tui cái đèn ông sao đi nhen!
Chữ “mấy anh”, tức là trong đó có tôi, làm tự ái tôi được vuốt ve, tôi tươi tỉnh lại. Thế là kẻ chuốt tre, người cột dây, rồi phết hồ, phủ giấy, trang trí. Vì cả bốn người cật lực làm, nên chẳng mấy chốc chiếc đèn ông sao “có tầm cỡ” hoàn tất!
Nhãn đón lồng đèn từ tay anh Long, miệng cười cười chúm chím, má khoét sâu thêm hai đồng tiền, trông thật dễ thương! Nhãn vụt chạy đi sau khi buông một câu:
- Cám ơn bốn anh nhen!
Cả bọn ngớ người, tôi còn bình tĩnh nói vói theo:
- Nhớ tối mai rước đèn nhe!
Con rồng của anh Long đẹp đến nỗi khi chấm điểm, thầy cứ xoay qua xoay lại, nghi ngờ hỏi anh: “ Em làm hay mượn người lớn làm?”. Tất nhiên, anh được điểm cao nhất (10 điểm), Tôi tự chấm đèn mình tệ nhất; y chang!
Tối hôm đó chúng tôi rước đèn. Một dọc hơn mười đứa, mỗi người một đèn; có mấy em nhỏ chưa đi học thì lấy đèn cầy cắm bên trong gáo dừa, tháp tùng đi theo, cùng hát tới hát lui : “Ánh trăng trắng ngà có cây da to, có thằng cuội già ôm một mối mơ. Cuội ơi! Ta nói cho Cuội nghe! Ở trong trăng mãi làm chi?....
Đó là mùa trung thu cuối cùng của tuổi thơ chúng tôi.
     Trong bọn chỉ có tôi là lên thành tiếp tục đi học, còn tất cả đều nghỉ để phụ việc nhà, và năm ba năm sau ai cũng có vợ có chồng! Nhãn theo chồng vào tuổi mười sáu. Được tin, tự dưng lòng tôi cảm thấy ngùi ngùi khó tả. Chồng Nhãn là anh Long, “nghệ nhân” làm đèn con rồng năm xưa.

Bão đời dồn dập, mười năm sau tôi mới có dịp về thăm quê vào dịp trung thu. Tôi đến thăm Nhãn, mới biết anh Long đã là liệt sĩ! Nhãn chào tôi bằng nụ cười thật buồn và ánh mắt như ươn ướt lệ, giây lâu mới lí nhí:
- Lâu quá không gặp anh!
Ba đứa nhỏ vây quanh mẹ, ngơ ngác nhìn tôi. Tôi mở bọc lấy ra mấy chiếc lồng đèn “hiện đại” xinh xắn tặng cho chúng. Hai đứa lớn nét vui mừng hiện rõ trên gương mặt thơ ngây; còn đứa nhỏ nhất lại “chạy trốn”, đưa hai tay đòi mẹ bế! Tôi vò đầu chúng; làm quen:
- Hai cháu thích không?
Một đứa gật đầu:
- Đẹp lắm, nhưng cháu thích đèn ông sao hơn!
Anh mắt tôi và Nhãn gặp nhau. Một thoáng kỉ niệm xưa nhanh chóng trở về. Tôi lại ngộ ra rằng, dù những chiếc lồng đèn “hiện đại” có xinh hơn, có đắt tiền hơn, nhưng chúng lại thiếu cái gì mang tính cách trẻ thơ!
Nhãn tiễn tôi bằng cái chào mệt mỏi, với nụ cười héo hắt trên môi, với ánh mắt thắm thiết mang nỗi buồn sâu thẳm. Bước vài bước, tôi luyến lưu quay lại, chợt bắt gặp Nhãn nhanh chóng lấy tay quẹt mắt. Tôi buốt cả lòng.
Gió thu nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm rơi nhiều chiếc lá . Vài con bướm vàng đậu trên nhánh mù u cho trời thu buồn hơn; nhưng cũng không buồn bằng đôi mắt lạc loài của Nhãn, nhỏ bạn ngày xưa.

                                                                                                  Kha Tiệm Ly

  lễ rước đèn trung thu tại tuyên quang - Tin tuc Hình ảnh Video Clip MỚI NHẤT về lễ rước đèn trung thu tại tuyên quang